Các phương pháp tính sinh gái hay trai

Sinh trai hay gái là do lẽ tự nhiên của tạo hóa. Nhưng khi cuộc sống phát triển, nhu cầu sinh trai hay gái cũng xuất hiện.

Xem tướng người để đoán Thọ và Yểu

Tướng người trường thọ phải hội đủ tối thiểu bảy điều kiện sau đây .

Để không mất sự hài hòa âm dương trong thuyết phong thủy

Bản thân đồ vật chưa hẳn đã xấu, nhưng khi sắp xếp không đúng chỗ có thể sẽ làm mất đi hài hòa ngũ hành, âm dương, dẫn đến các tác động xấu.

Thứ Ba, ngày 10 tháng 7 năm 2012

Để không mất sự hài hòa âm dương trong thuyết phong thủy

Bản thân đồ vật chưa hẳn đã xấu, nhưng khi sắp xếp không đúng chỗ có thể sẽ làm mất đi hài hòa ngũ hành, , dẫn đến các tác động xấu.
Hai căn hộ có kích cỡ thiết kế giống nhau, nhưng căn nào dùng đồ vật đồng bộ, hài hòa thì trường khí hưng vượng hơn.

phongngu tivi Để không mất sự hài hòa âm dương trong phong thủy
Chỗ này làm hồ cảnh non bộ thì tốt nhưng chỗ khác đưa vào lại không thể chấp nhận được… Tất cả là do bố trí đồ nội thất không khéo, có thể xem xét theo một số tiêu chuẩn sau:
Kích cỡ và tỷ lệ
Những đồ vật thiếu tỷ lệ so với không gian như bộ sofa quá to trong phòng khách nhỏ, giường người lớn dùng cho phòng trẻ em hoặc ngược lại… đều gây cản trở trường khí và người sử dụng luôn thấy bất an hoặc bị đè nén.
Hình dạng và chi tiết
Những đồ vật có nhiều góc cạnh sắc nhọn gây nguy hiểm, đồ vật có hình thù kỳ lạ (ví dụ như bàn ghế hình gốc cây vặn vẹo) chỉ thích hợp kê ngoài sân vườn, không thể đặt trong phòng ngủ, đồ vật gây nguy hiểm (quạt trần treo quá thấp, rèm cửa cạnh bếp lò…).
Chất liệu và màu sắc
Gương chiếu vào đầu giường nằm, đặt hồ cá dưới gầm thang gây ẩm thấp, dùng nhiều đèn màu tím khiến sai lệch về màu da. Tất cả cần được xem xét một cách toàn diện và tìm ra cách khắc phục.
Những nguyên tắc tuân thủ
Đồng bộ, tương sinh và có điểm nhấn là những điều nên tuân thủ. Đồ vật đồng bộ luôn giúp thống nhất nội thất, chẳng hạn như phòng ngủ thuần gỗ từ sàn, giường, bàn, ghế, tủ áo… Đồ vật tương sinh tức là tuân theo vòng ngũ hành.
Ví dụ như phòng thuộc hành Mộc như phòng ăn, ngủ thì đồ vật nên có dạng hành Thủy sinh Mộc (mềm mại uốn lượn, màu xanh biển) hoặc hành Mộc (đồ bằng gỗ, dáng cây hay ống tròn) tránh dùng nhiều đồ sắt thép hoặc phản quang (Kim khắc Mộc).
Phòng khách thuộc Thổ thì nên dùng đồ vật dạng vuông hoặc chữ nhật, dáng vẻ bề thế và bình ổn, màu nâu hay vàng. Cần thêm đồ vật làm điểm nhấn để nổi bật khí như phòng khách cần chú ý tranh treo tường hay tủ trang trí. Phòng ngủ cần lưu tâm mảng tường đầu giường làm chỗ dựa.
Điểm nhấn cần hạn chế (chỉ một hoặc hai điểm) và vẫn nằm trong quy luật đồng bộ, tương sinh đã nêu. Cần lưu ý nhà ở không phải là quán xá hay gallery để trưng bày đồ vật quá nhiều, dù là đồ đẹp.
Nguồn: Phong Thuy Tong Hop

Nốt Ruồi – cát hung theo phong thủy học

Thông thường ai cũng có nốt ruồi . Nốt ruồi có màu vàng lạt hay màu nâu v.v. Nốt ruồi phải thật đen hoặc thật đỏ mới tốt . Nốt ruồi đỏ còn gọi là nốt ruồi son .
notruoitrenmat Nốt Ruồi   cát hung
NỐT RUỒI Ở TRÊN MẶT
-Nốt ruồi ở trán: phú quí.-Trên dỉnh đầu: có uy quyền trong xã hội.-Hai bên tai: gặp tai hoạ-Ngoài lông mày bên trái: tốt.-Trên sống mũi: khắc con-Bên trái mép miệng: bần tiện.-Sát mépmiệng: có tài ăn nói
-Trên trán bên trái gần tóc: có nhiều đời chồng
-Đuôi miệng bên trái nhưng nằm sát miệng: khẩu thiệt, thị phi, bần tiện.-Trong môi trên bên trái: sát con, hoặc hoạ ách.-Trên miệng bên phải ngay lỗ mũi: bần tiện
-Trên lông mày phía chót của lông mày: hưởng lộc hoặc có chồng sang.- Ngay nhân trung: sanh con đôi- Gần nhân trung: đông con-Trong con mắt bên trái: hại chồng
- Giữa cằm: không tốt, không hùn hạp với ai được
- Dưới mắt trái ngay dưới: chồng chết sớm, nếu dàn ông có thì khóc con.- Nằn ở tai phải: có hiếu.- Dưới cằm bên trái gần giữa: sẽ có của.- Cánh mũi bên trái: bần tiện.- Dưới mí mắt bên trái màu trắng: hoạ ách
-Trên môi bên trái: khẩu thiệt.-Gần nhân trung bên trái: sống lâu.-Gần tóc mai bên trái chỗ tai màu nâu: không nên đi xa.-Mắt đi ra gần tay trái, trên mắt: hại chồng
NỐT RUỒI TRÊN THÂN THỂ
-Nằm ở eo bên hông phải: thông minh
-Sau dầu chỗ gáy gần đường mương: thuận lợi khi giao tiếp với bên ngoài
-Hai bên vai màu hồng: hậu vận phát đạt
Đưới cổ bên trái: xấu, bần tiện, trở ngại đường đời
-LÒng bàn tay phải gần ngón út: quý tử
-Giữa yết hầu: không tốt, bần tiện-Eo bên tay trái: thông minh-Nốt ruồi chung quanh ngực: phú quý
-Ở bụng phía bên mặt: quý nhân phù hộ
- Dưới ngực bên phải gần bụng: làm việc như ý
-Trên lưng tay phải gần vai: con người rộng rãi
-Ở cổ giữa hai vai: trí tuệ-Phía sau chỗ bả vai tay phải: có nhiều tài vặt.-Nốt ruồi ở hai khuỷu tay: giàu có, phú quý.-Nốt ruồi ở dầu khuỷu tay: tai ách.-Trong hai cánh tay: bị tai nạn bất ngờ.-Phía trên sau hai bắp vế: phúc đức.-Ở đỉnh đầu gối: có nhiều tài sản.-Ở ống chân: bôn ba đau khổ.-Trên nhũ hoa: có nhiều con cái.-Giữa nhũ hoa: phúc thọ.- Dưới nhũ hoa: có nhiều tiền của-Ngay rốn: phúc lộc, quý tử.-Nằm ở uy đầu: sống lâu
Cát hung của nốt ruồi theo bộ vị như hình vẽ trên:
1. Khắc Cha Mẹ. Thường phải xa cha hoặc mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên tự lập, không có số nhờ cha, mẹ
2. Khắc Cha Mẹ. Thường phải xa cha hoặc mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên tự lập, không có số nhờ cha, mẹ
3. Khắc cha mẹ. Thường mất cha mẹ lúc còn trẻ tuổi
4. Người có cuộc sống bình đạm, không bon chen
5. Người có đạo đức
6. Sống rất thọ,cuộc đời sung túc nếu có cả nốt ruồisố 2
7. Số may mắn, làm việc thường lúc nào cũng thành công
8. Nốt ruồi đại phú, có nhiều tiền bạc, tài của
9. Nốt ruồi quí, thường có danh vọng, địa vị cao trong xã hội
10. Người biết xuôi theo thời, thường được người có thế lực đỡ đầu
11. Nốt ruồi thị phi. Dễ bị liên quan trong các vụ kiện tụng, thưa gởi, tiếng đồn xấu ..
12. Nốt ruồi đại kiết. Cuộc đời thường gặp nhiều may mắn
13. Khắc cha. Thường cha chết trước mẹ
14. Nốt ruồi ly hương. Phải rời xa quê quán lập nghiệp mới thành công
15. Nốt ruồi tha hương. Thường sống xa nhà , khi chết cũng ở xứ khác
16. Nốt ruồi Thiên-Hình. Dễ bị thương tật, hay xãy ra tai nạn
17. Thường có nhiều tiền bạc. Làm chơi ăn thiệt
18. Nốt ruồi cô quả. Thường sống độc thân, có gia đình cũng không lâu bền hoặc không hạnh phúc
19. Nốt ruồi kém may mắn. Thường không thành công trong cuộc đời. Khi chết xa quê hương
20. Thường làm về các nghề sản xuất như công kỹ nghệ, hoặc chăn nuôi, trồng trọt. Không có số làm thương mại
21. Nốt ruồi triệu phú. Giàu nhỏ nhờ làm việc nhiều và biết cần kiệm.
22. Nốt ruồi công danh. Thi cử dễ đậu cao, thường làm việc các nghề chuyên môn, cần bằng cấp
23. Nốt ruồi hoạnh tài. Thường chạy chọt áp phe, cờ bạc, hay trúng số
24. Nốt ruồi phú quí. Tốt về cả công danh lẫn tài lực
25. Thường thân cận với những người quyền quí hay giàu có
26. Nốt ruồi đa nghệ. Nghề nào làm cũng dễ thành công
27. Nốt ruồi xui xẻo
28. Làm ăn dễ thất bại. Không nên mưu sự lớn
29. Nốt ruồi thiên lộc. Làm chơi ăn thiệt, thường có của trên trời rơi xuống
30. Nốt ruồi khôn ngoan,biết lợi dụng thời cơ để kiếm lời
31. Nốt ruồi phá gia. Làm ăn hay gặp trở ngại đến mức phá sản. Cẩn thận về cờ bạc
32. Nốt ruồi tai nạn, dễ bệnh hoạn, tai nạn
33. Dễ bị tai nạn, thương tích
34. Tiền kiết hậu hung. Làm ăn trước tốt sau xấu. Chớ nên làm những việc có tính cách ngắn hạn như áp phe, mánh mun, sale, ..
35. May mắn. Cuộc đời ít rủi ro, thường được nhiều người giúp đỡ
36. Nốt ruồi phú. Làm giàu nhanh chóng
37. Tính người hung dữ, hay kiếm chuyện, hay gây rắc rối
38. Dễ gặp tai nạn vì bất cẩn
39. Tốt về mọi mặt từ sự nghiệp đến tình cảm
40. Tiền hung hậu kiết. Công việc thường có trở ngại lúc đầu, nhưng càng về sau càng tốt, giàu có
41. Hay gặp rủi ro, thất bại
42. Hay bị thương tích, thân thể thường có thương tật, tì vết.43. Nốt ruồi xui xẻo
44. Nốt ruồi lãng mạn, nam cũng như nữ. Thường có nhiều quan hệ nhân tình
45. Phát đạt. Làm ăn dễ thành công46. Nốt ruồi xui xẻo
47. Nốt ruồi ly hương. Làm ăn có lúc phát rất mạnh, nhưng cuộc đời dễ bị phá sản
48. Hay bị tai bay vạ gởi, không làm mà chịu
49. Nốt ruồi phân ly. Vợ chồng, nhân tình dễ xa cách
50. Khắc con cái, sinh nhiều nuôi ít
51. Sát thê, vợ chồng dễ phân ly
52. Khắc cha. Xa cha sẽ khá hơn
53. Hay gặp tai họa, rủi ro
54. Khắc mẹ. Số không sống gần mẹ. Vợ chồng cũng dễ phân ly
55. Kém may mắn, cuộc đời hay gặp những chuyện hung dữ, kẻ ác
56. Khắc con cái. Thường không sống gần con. Sinh nở khó khăn
57. Sát thê. Vợ chồng dễ phân ly
58. Tính tham lam. Có tật ăn cắp vặt
59. Nốt ruồi lãng mạn, nam cũng như nữ. Thường có nhiều quan hệ nhân tình bất chính
60. Thông minh và khôn ngoan. Học ít hiểu nhiều
61. Số dễ bị tai nạn
62. Thông minh, sống rất thọ. Tiền bạc trung bình
63. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết
64. Nốt ruồi quan tụng. Trong đời hay xảy ra chuyện lôi thôi về kiện tụng
65. Khắc cha. Thường mất cha hoặc sống xa cha từ nhỏ
66. Thông minh, học ít hiểu nhiều. Sống rất thọ
67. Nốt ruồi cô độc. Thường phải ly hương, xa gia đình, xa vợ con
68. Dễ bị tai nạn về nước và lửa
69. Nói nhiều, hay bị người ghét vì ăn nói. Nói không cẩn thận và không nghĩ đến cảm giác người khác
70. Ngồi lê đôi mách, hay để ý chuyện của người khác
71. Tính xấu, thường hà tiện và tham lam
72. Con cái, người dưới hay bị hoạn nạn
73. Nốt ruồi tuyệt tự, khó có con
74. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết
75. Dễ bị tai nạn về sông nước
76. Tính xấu, tham lam, lòng dạ không ngay thẳng
77. Nốt ruồi hoạnh tài. Thường chạy chọt áp phe, cờ bạc, hay trúng số
78. Nốt ruồi thị phi. Họa đến từ miệng, thần khẩu hại xác phàm
79. May mắn, làm ăn, công việc luôn có người giúp
80. Thông minh, nhạy bén, thi cử dễ đổ cao
81. Nốt ruồi Hòa Lộc. Tiền hết lại có, không bị túng thiếu
82. Nốt ruồi ngoại tình, đa tình. Nam cũng như nữ, đều dễ ngoại tình
83. Nốt ruồi phú. Thường giàu có nhờ làm ăn được nhiều người giúp đỡ
84. Nốt ruồi may mắn. Cuộc đời thường may mắn, dễ kiếm tiền
85. Dễ bị phá sản vì thiên tai hay chiến tranh
86. Nốt ruồi hoạnh phát. Thường có tài lộc, của vô rất nhanh
87. Nốt ruồi lãng mạn. Nam cũng như nữ đều thích chuyện tình ái, chăn gói. Thường có nhiều quan hệ cùng lúc
88. Nốt ruồi trác táng. Dễ sa ngã vào rượu chè, hút sách ..
89. Khôn ngoan, thông minh, tính tình rộng rãi
90. Số sung sướng, không giàu nhưng nhàn hạ, hưởng thụ.
91. Nốt ruồi bình an. Cuộc đời không sợ tai nạn
92. Dễ bị người khác cướp giật, sang đoạt tài sản
93. Nốt ruồi phong lưu. Thường có đời sống xa hoa, hưởng thụ
94. Giàu có và khôn ngoan. Hay gặp may mắn về tài lộc
95. Thường có danh vọng, địa vị trong xã hội

Các phương pháp tính sinh gái hay trai

Phương pháp tính sinh trai hay gái.
Sinh trai hay gái là do lẽ tự nhiên của tạo hóa. Nhưng khi cuộc sống phát triển, nhu cầu sinh trai hay gái cũng xuất hiện. Nhiều gia đình sinh con một bề muốn cho “có nếp có tẻ” đối khi rất muốn sinh con theo giới tính được định sẵn. Khoa học hiện đại cũng có nhiều công trình nghiên cứu về việc này. Chúng tôi Tổng Hợp dưới đây là những phương pháp còn lưu truyền trong dân gian thuộc cổ học Đông phương để các bậc phụ huynh tham khảo.

129 Sinh gái hay trai ?
Phương pháp thứ I
Lấy tuổi vợ chồng theo tuổi Âm lịch, sau đó cộng tuổi vợ chồng trừ đi 40. Nếu số dư trên 40 tiếp tục trừ đi 40. Lấy số dư còn lại đầu tiên trừ 9, tiếp tục trừ 8, lại trừ 9, trừ 8… cho đến khi số dư nhỏ hơn hoặc bằng 9 -8 thì thôi.
1 – Hiệu số cuối cùng còn lại là số chẵn thì cấn bầu trong năm sinh trong trong năm là con trai. Ngược lại cấn bầu ngoài năm sinh trong năm là con gái.
2 – Hiệu số cuối cùng còn lại là số lẻ thì cấn bầu trong năm sinh trong trong năm là con gái. Ngược lại cấn bầu ngoài năm sinh trong năm là con trai.
Thí dụ:

Tuổi chồng 37. Tuổi vợ 32.
Tổng số 69.
69 – 40 = 29.
29 – 9 = 20.
20 – 8 = 12.
12 – 9 = 3.
Theo phương pháp này:
Nếu hai vợ chồng này cấn bầu trong năm và sinh trong năm sẽ sinh con gái. Ngược lại, cấn bầu trong năm nay và sinh trong năm tới sẽ sinh con trai.
Phương pháp thứ II
Phương pháp này bắt đầu từ một bài ca quyết lưu truyền sau đây:
Nguyên văn:
49 từ xưa đã định rồi.
Cộng vào tháng đẻ để mà chơi.
Trừ đi tuổi mẹ bao nhiêu đấy!
Thêm vào 19 để chia đôi.
Tính tuổi trăng tròn cho thật chuẩn.
Chẵn trai, lẻ gái đúng mười mười.
Như vậy; nếu chúng ta gọi tháng sinh là “n” và tuổI mẹ là “M” thì sẽ có bài toán là:
(49 + n – M +19): 2
Giản lược công thức trên , ta có:
(68 + n – M) :2.
Thí dụ:
Mẹ 32 tuổi, sinh con tháng 9 Âm lịch.
Thay vào công thức trên ta có: n = 9; M = 32.
(68 + 9 – 32): 2 = 22. 5.
Lẻ. Theo phương pháp này thì bà mẹ 32 tuổi sinh tháng 9 sẽ là con gái.
Phương pháp thứ III

Ứng dụng bảng tổng kết theo Lịch Vạn sự về “tháng thụ thai sinh trai hay gái” như sau:
bangsinhtraigai Sinh gái hay trai ?
Theo bảng này, chúng ta xem cột tuổi người mẹ phía trên từ 18 đến hết 40. Cột dọc bên trái ứng với tháng thụ thai. Nếu rơi vào ô có dấu “+” là sinh con trai, dấu “0″ là con gái.
Tương truyền đây là bảng tổng kết của các quan Thái Giám trong cung đình xưa.
Cách kết hợp ba phương pháp
Ba phương pháp này lưu truyền rời rạc trong dân gian. Chúng đều khó kiểm định tính hiệu quả cho từng phương pháp.
Nhưng chúng tôi nhận xét thấy rằng:
1 – Phương pháp I tính năm sinh con theo ý muốn.
2 – Phương pháp II tính tháng sinh con theo ý muốn.
3 – Phương pháp III để sinh con theo ý muốn.

Ba phương pháp này tuy khác nhau nhưng không phủ định nhau về nguyên tắc.
Bởi vậy, sự kết hợp cả ba phương pháp sẽ cho chúng ta một xác xuất cao hơn.
1 – Trước hết chúng ta áp dụng phương pháp thứ I để xác định một cách tổng quát nên cấn bầu và sinh trong năm hay cấn bầu năm nay sinh năm tới.
2 – Sau đó áp dụng phương pháp thứ II. Giả thiết rằng chúng ta cần một con số chẵn cho tháng sinh thì – Khi tuổi mẹ lẻ, tháng sinh phải lẻ và ngược lại thì kết quả của công thức trên sẽ cho ra một số chẵn.
3 – Sau khi xác định được tháng sinh là lẻ (Hoặc chẵn), lúc đó ta áp dụng phương pháp thứ III. Giả thiết tháng sinh lẻ, ta sẽ chọn trong bảng tháng thụ thai thích hợp với tháng lẻ hoặc chẵn cần tìm.
Thí dụ:
Chồng 31, vợ 27.
* Giả thiết rằng vợ chồng này muốn sinh con trai.
I – Ứng dụng phương pháp thứ I

Cộng tuổi vợ chồng 31 + 27 = 58.
58 – 40 = 18.
18 – 9 = 9
9 – 8 = 1.
Như vậy số dư là 1 là số lẻ. Sang năm vợ chồng đều cộng lên 2 tuổi sẽ có số dư 3 cũng là số lẻ. Do đó nếu có bầu và sinh con trọn năm sẽ là con gái và ngoài năm sẽ là con trai.
Vậy theo điều kiện của phương pháp I thì muốn sinh con trai phải có bầu trong năm này và sinh vào năm sau.
II – Ứng dụng phương pháp II
Sau khi xác định phải có bấu trong năm nay và sinh năm sau, ta ứng dụng phương pháp II để chọn tháng sinh con theo công thức:
(68 + n – M): 2.
Ta có: Tuổi mẹ M = 27.
Thay thế vào công thức trên ta có:
(68 + n – 27): 2 = (41 +n): 2.
“n” là tháng sinh. Như vậy để thỏa mãn tháng sinh chẵn con trai thì tháng sinh phải chọn tháng lẻ.
III – Ứng dụng phương pháp III.

Sau khi xác định phải sinh trong tháng lẻ và phải cấn bầu năm nay (27 tuổi) và sinh năm sau (28 tuổi), ta tra bảng trên để tìm một tháng lẻ trong năm 28 tuổi (Như 1 – 3 – 5 – 7 ….) và tính lùi 9 tháng để rơi vào một tháng cấn bầu thích hợp có dấu +.
Cụ thể là:

Nhìn vào cột ngang ô người mẹ 28 tuổi (Giả thiết năm hiện tại là 27, sinh vào sang năm là 28). Nhưng tháng lẻ có khả năng sinh con trai theo phương pháp II là 1 – 3 – 5 – 7 .
- Trường hợp chọn tháng Giêng năm 28 tuổi thì cấn bầu tháng 6 năm 27 tuổi. Cấn bầu tháng 6 năm 27 tuổi bảng cho biết khả năng sinh con trai (Dấu +).
- Trường hợp chọn tháng Ba thì cấn bấu tháng 8 năm 27 tuổi. Cấn bầu tháng 8 năm 27 tuổi, bảng cho biết khả năng sinh con trai (Dấu +)
- Trường hợp chọn tháng Năm thì cấn bấu tháng 10 năm 27 tuổi. Cấn bầu tháng 10 năm 27 tuổi, bảng cho biết sinh con gái (Dấu 0). Không thỏa mãn giả thiết trên.
Như vậy, khi kết hợp cả ba phương pháp, cho người mẹ 27 tuổi chồng 31 thì điều kiện thỏa mãn cả ba phương pháp là cấn bầu tháng 6 hoặc 8 năm vợ 27 tuổi và sinh vào năm 28 tuổi.
* Giả thiết rằng vợ chồng này muốn sinh con gái.

I – Ứng dụng phương pháp thứ I

Cộng tuổi vợ chồng 31 + 27 = 58.
58 – 40 = 18.
18 – 9 = 9
9 – 8 = 1.
Như vậy số dư là 1 là số lẻ. Sang năm vợ chồng đều cộng lên 2 tuổi sẽ có số dư 3 cũng là số lẻ. Do đó nếu có bầu và sinh con trọn năm sẽ là con gái.
Vậy theo điều kiện của phương pháp I thì muốn sinh con gái phải có bầu và sinh trọn trong năm nay, hoặc có bầu và sinh trọn trong năm sau.
II – Ứng dụng phương pháp II
Sau khi xác định phải có bấu và sinh trọn trong năm nay (Hoặc trọn năm sau), ta ứng dụng phương pháp II để chọn tháng sinh con theo công thức:
(68 + n – M): 2.
Ta có: Tuổi mẹ M = 27.
Thay thế vào công thức trên ta có:
(68 + n – 27): 2 = (41 +n): 2.
“n” là tháng sinh. Như vậy để thỏa mãn tháng sinh lẻ con gái thì tháng sinh phải chọn tháng chẵn.
III – Ứng dụng phương pháp III.

Sau khi xác định phải sinh trong tháng chẵn và phải cấn bầu và sinh trọn năm nay (27 tuổi); hoặc trọn năm sau (28 tuổi), ta tra bảng trên để tìm một tháng chẵn trong năm 27 (Hoặc 28) tuổi (Như 2 – 4 – 6 – 8 ….) và tính lùi 9 tháng để rơi vào một tháng cấn bầu thích hợp có dấu +.
Như vậy, ta đã ứng dụng cả ba phương pháp cho giả thiết vợ chồng trong thí dụ trên sinh con gái.
Nhưng dân gian ta có câu:
“Người tính không bằng trời tính”
Bởi vậy, cũng xin lưu ý là moị chuyện theo tự nhiên là tốt nhất. Tuy kết quả trên khá chính xác. Nhưng còn số phận người đó có thể sinh trai hay gái hay không lại là chuyện khác. Muốn thay đổi số phận, điều đầu tiên phải tạo phúc đức đã.
Chúc vạn sự như ý.

Đoán tướng cho thiên thần nhỏ của bạn

Con nít vì cơ thể chưa phát triển đầy đủ nên không thể căn cứ vào ngũ quan , Lục phủ để định tốt xấu như người đã thành niên . Việc coi tướng phần lớn chỉ dựa vào thần khí , cử chỉ nên chỉ có tính cách phỏng chừng . Ở mục này , soạn giả cố gắng tổng hợp các nét chính về tướng tiểu nhi phân thành từng trọng điểm để độc giả tiện tham khảo.
129 Đoán tướng của trẻ em…
1 – Tướng trẻ em dễ nuôi:
Hầu hết trẻ em dễ nuôi và sống đến tuổi thành niên , trong hoàn cảnh bình thường đều có bảy nét tướng chính yếu sau :
-Mới sinh ra tóc dài tới sát lông mày.
-Đầu tròn trịa , da hồng hoặc ngăm đen.
-Lỗ mũi khi thở phát ra hơi đều và mạnh , lúc ngủ ngậm miệng.
-Mắt có thần , khi cất tiếng khóc mới đầu giọng cao , tiếng lớn có âm lượng .
-Con trai , hai trứng dái ( âm nang ) đàn hồi và có nhiều nếp xếp.
-Tai và miệng lớn.
-Mũi cao , môi hồng và dầy cân xứng .
2 – Tướng trẻ em khó nuôi:
-Da đầu trông có vẻ quá mỏng và căng.
-Lông mày quá lớn so với Đầu và mũi quá thấp đường chỉ thấy có phần chuẩn đầu.
-Mắt thay vì có màu đen bóng như hạt huyền lại có màu lạt như đậu đỏ.
-Khuôn mặt tròn như mắt gà.
-Tai nhỏ và mềm như bún.
-Không có bắp chân.
-Khi cất tiếng khóc mới đầu rất lớn , về sau nhỏ dần.
-Thịt nhiều , bệu , xương quá ít.
-Môi mỏng như giấy và phía sau tai không có nhĩ căn nổi rõ.
-Đầu lớn , cổ quá nhỏ.
-Hai mắt lờ đờ không thần.
-Mắt lúc nào cũng ướt như khóc.
-Đầu nhỏ , nhọn.
-Bụng lớn , rốn nhỏ.
-Tóc vàng khè và thưa , ngắn.
-Chưa tới sáu tháng mà đã sớm mọc răng trong khi lông mày hầu như không có.
Sự dễ nuôi và có khả năng sống đến tuổi thành niên hay khó nuôi hoặc yểu tử còn có thể căn cứ vào xương đầu để đoán định . Trong phần xương đầu của trẻ em ta cần đặc biệt lưu ý mấy khu vực sau đây :
-Xương chẩm ( phía sau đầu , trên xương gáy )
-Sơn căn
-Tỵ lương ( Sống mũi )
Xương chẩm nổi rõ và rộng , Sơn căn có bề ngang và cao hơn mặt phẳng của lưỡng quyền , sống mũi ở ngay giữa khuôn mặt và không lệch là dấu hiệu bề ngoài về mặt hình thể cho biết đó là cát tướng . Ngược lại là yểu tướng
3 – Tướng trẻ em phúc hậu:
Từ khi bắt đầu biết đi đến 5 tuổi muốn biết phúc phận trẻ em dầy mỏng ra sao thì coi thần khí . Thần khí nói ở đây bao gồm tọa thần , ngọa thần và mục thần nghĩa là ánh mắt hoà ái , nói năng thong thả trong trẻo , đi đứng nằm ngồi có vẻ nhàn hạ là tướng phúc hậu . Sau 6 tuổi coi thêm Nam , Trung và Bắc nhạc . Nam nhạc cao rộng đúng cách chủ về sơ vận phúc lộc tốt , Trung nhạc đắc thế thì trung vận khá giả , Bắc nhạc đầy đặn cân xứng thi vãn vận hưởng phúc . Tóm lại cuộc đời về sau của trẻ em có thể biết trước được một cách khái quát ngay từ khi chúng còn thơ ấu .
4 – Tướng trẻ em tương lai nghèo hèn:
Lúc còn nằm trong nôi mà tiếng khóc không trong trẻo chủ về lớn lên vừa nghèo khổ vừa khó nên người , tiếng khóc mà âm thanh tản mát , lớn lên thì vô tài bất tướng . Thần khí bất túc , biết đi quá sớm cũng cùng một ý nghĩa như trên .
Từ 3,4 tuổi trở lên không thích quần áo sang trọng , không phân biệt sạch bẩn Nam , Trung và Bắc nhạc lệch hãm ….đều là dấu hiệu báo trước rằng khi lớn lên khó có thể khá giả
5 – Tướng trẻ em trọng bệnh:
Góc trán có sắc xanh xám , hai mắt thất thần , Thiên thương và ấn đường sắc đỏ , môi miệng xám đen . Khi thấy có những màu sắc trên bắt đầu xuất hiện là phải đề phòng trọng bệnh
Khi bị bệnh nặng , nếu thấy Sơn căn , Tỵ lương , môi , miệng đều xám xanh một lúc là dấu hiệu sẽ chết trong vòng năm , bảy ngày tới . Các bộ vị trên đều từ xám xanh chuyển dần sang màu vàng nghệ thì khoảng ba bốn ngày khó tránh khỏi tuyệt mạng . Nếu mắt lộ phù quang , gián đài , đình uý khô cằn , chuẩn đầu đen , môi miệng vàng là dấu hiệu sắp chết nội trong ngày.
Ngược lại , bệnh dù nặng , nhưng màu đỏ của ấn đừơng biến dần sang màu vàng , môi miệng từ đen xạm sang hồng lạt là dấu hiệu nội tại cho biết bệnh trạng bắt đầu thuyên giảm , sinh mạng không có gì nguy hiểm .
6 – Tứơng trẻ em trai khắc cha
-Phía trán bên trái thấp , lõm hoặc bị tật nệnh bẩm sinh hoặc khu vực trán có nhiều lông tơ nhỏ và rậm đen khác thường
-Lông mày trái bất thường tỷ như nửa phần rủ xuống , nửa phần hướng lên , sợi lông thô , mọc dựng đứng
-Thân mũi lệch về bên trái hoặc một trong các bộ vị bên trái của mũi bị khuyết hãm
-Quyền trái lộ
-Tai trái thấp hơn tai phải hoặc hình thái có Luân Quách đảo ngược
-Nhân trung lệch về bên trái
-Khoé miệng lệch về trái . Môi trên dài hơn môi dưới quá đáng
Có từ hai dấu hiệu trên trở lên có thể coi như tướng khắc cha . Càng nhiều hơn thì sự khắc phá càng nặng . Nếu có đủ tất cả có thể quả quyết là cha sẽ chết trước mẹ , hoặc người cha sẽ khốn khổ vì đứa con đó
7 – Tướng trẻ em trai khắc mẹ
-Nguyệt giác thấp , lệch , lẹm có lông măng quá đậm
-Lông mày phải có lông mọc ngược hoặc thẳng đứng , trái lẽ thường trong khi phía trái bình thường
-Sống mũi lệch về phải , các bộ vị phía phải của mũi có hình dạng bất thường
-Quyền phải lệch , lộ , nhọn
-Tai phải thấp , nhọn , khuyết
-Nhân trung lệch về bên phải
-Môi dưới dài hơn môi trên , hoặc khoé miệng phải lệch
Nói chung , khuôn mặt bên phải chủ về mẹ . Nếu các bộ vị bên trái bình thường mà ít nhất hai hay nhiều bộ vị bên phải có các dấu hiệu trên thì có thể tiên đoán được đứa trẻ đó khắc mẹ . Nhẹ thì mẹ con bất hoà , tính tình xung khắc , nặng thì có thể vì sinh đứa con đó mà chết trước chồng
(St).

Xem tướng người để đoán Thọ và Yểu

Thọ, Yểu
Tướng người trường thọ phải hội đủ tối thiểu bảy điều kiện sau đây :
- Lông mày phối hợp thích nghi với râu và tóc, càng về già càng dài lại là dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, dưới 30 tuổi mà lông mày đột nhiên dài ra một cách bất thường lại là chứng yểu mạng

gioithieu billgate Thọ và Yểu qua Tướng người
- Tai có Luân Quách rõ ràng, lớn và dầy, rắn chắc, sắc tươi nhuận
- Sống mũi ( Phần Niên thượng, Thọ thượng ) đầy và có thịt
- Nhân trung sâu và rộng
- Răng chắc chắn
- Tiếng nói rõ ràng, vang dội
- Thần khí sung túc
Ngoài ra, những dấu hiệu sau đây cũng liên quan khá mật thiết tới việc giải đoán thọ mạng
- Cổ phía dưới có thêm lớp da trễ xuống vai ( trường hợp khí người đứng tuổi và mập ).
- Nếu là lộ hầu thì âm thanh phải trong trẻo và cao
- Xương Lưỡng quyền vững vàng và ăn thông lên ngang phía
- Xương hai bên đầu phía trên và sau tai nổi cao rõ rệt
- Ngũ nhạc đầy đặn và đúng cách tục
- Đến tuổi trung niên ( khoảng ngoài 30 tuổi ) Tai mọc lông dài hoặc Lông mày bắt đầu mọc dài và sắc thái tươi nhuận
- Lưng rộng, bụng dầy
Người có đầy đủ tất cả các điều kiện kể trên chắc chắn là tướng trường thọ trong trường hợp bình thường.
Tướng người non yểu
Một cá nhân bị xem là tướng non yểu nếu đồng thời phạm bảy khuyết điểm sau đây :
Lông mày đẹp đẽ về hình thức nhưng hỏng về thực chất ( chẳng hạn sợi thô vàng, sắc khô héo ), Lông mày mọc xệ xuống phía dưới mi cốt, dáng vẻ lạnh lẽo.
-Tai nhỏ, úp xuống phía trước mặt, Tai quá mềm và sắc không xạm, tai quá mỏng, nhĩ căn bạc nhược.
-Mũi gãy khúc, Sơn căn gập xuống, Chuẩn đầu nhỏ nhọn, khiến mũi trở thành liệt thế.
-Đầu nhỏ, cổ dài, trán nhỏ nhọn và nổi gân xanh, thiếu niên mà đi hoặc ngồi co đầu rụt cổ.
-Nhân trung ngắn nông cạn
-Tiếng nói đứt đoạn, giọng nói gấp mà hời hợt như người thiếu hơi, âm điệu buồn tẻ như người không có sinh khí.
-Ánh mắt đờ đẫn như kẻ si ngốc hoặc người ngái ngủ, ngồi thì lưng như gục ngã, đứng nhìn thì chân không có gân cốt, đi thì thân hình xiêu vẹo, bước chân thiếu vững vàng.
Tất cả những dạng thức trênđều là biểu hiện của “Thần suy nhược, hôn ám đoản xúc” nên không thể nào sống quá 50 tuổi. Bởi lẽ đó, có người tuy về hình tướng rất đẹp đẽ phương phi mà chết yểu chỉ vì khí chất không quân xứng.
Ngoài cách cục tổng quát về non yểu kể trên , tác giả Phong Vân Tử trong cuốn Giám nhân thuật còn liệt kê một vài hạn tuổi non yểu với một số hiệu đặc biệt rất dễ nhận xét như sau :
a ) Chết yểu trong vòng 10 tuổi trở lại : Phàm tướng người non yểu trong tuổi trên được thể hiện qua đầu và trán nhỏ quá mức so với thân mình , trán nổi gân xanh quá rõ rệt , phía sau đầu xương bị lõm xuống
b ) Chết yểu trong vòng 20 tuổi trở lại : Tác người lớn con mà đầu lại nhỏ bé cộng thêm với tiếng nói quá nhỏ là tướng khó sống qua năm 15 tuổi . Tai mỏng như giấy , nhĩ căn bạc nhược , da mỏng và bóng như bôi dầu khó vượt qua quãng 16,19 tuổi , Mắt lồi mà lòng đen ít , lòng trắng nhiều , nhĩ căn xạm đen , tai mỏng và hướng về phía trước , khó sống qua tuổi 20
c ) Chết yểu trong vòng 30 tuổi : Lông mày ngắn , mặt ngắn không thọ quá 25 tuổi . Mày thưa thớt , xâm phá Aán đường , mắt không có thần , môi xám đều là tướng đoản thọ trong vòng 26 tuổi . Mắt nhỏ , quyền thấp , xương thô , thịt teo mà hạ đình quá dàin họn : không quá 27 tuổi . Lông mày giao nhau mà mắt thoát thần , môi vẩu mà môi trên lại ngắn , da mặt quá mỏng đều là tướng khó sống được quá 30 tuổi
d ) Chết yểu trong vòng 40 tuổi : Mắt lồi , lông mày ngắn , mà đại các quá dài không tương xứng với khuôn mặt khó sống qua 32 tuổi . Mắt thì lúc như lộ chân quang , lúc thì lại như chìm xuống . Lông mày vừa thô vừa ngắn lại thêm hạ đình dài hẹp : không quá 34 tuổi . Mắt lộ mà lộ hầu , xương nhỏ mà người mập : không quá 36 tuổi . Mắt lộ hung quang hừng hực , tính tình thô bạo thì dẫu mũi cao , sơn căn không gẫy khúc thì cũng chỉ đến năm 39 tuổi khó tránh được số trời
e ) Tướng mạng vong trong khoảng 50 tuổi : Con người quá 50 tuổi mà chết thì theo câu nói vẫn thường truyền tụng “ nhân sinh thấp thập cổ lai hy “ không còn gọi là yểu tử nữa mà nên gọi là mạng vong hay thọ chung . Thông thường , kẻ sống mũi không ngay ngắn ( có chiều hướng lệch sang bên trái hay bên phải ) ít khi sống quá 42 tuổi . Mắt nhỏ , mày co rút lại không tương xứng với khuôn mặt sơn căn lại đầy đặn thường sống đến khoảng 42,44 tuổi . Bắt đầu phát phì mà thần khí lại có vẻ co rút thì khó qua được tuổi 49 và 50.

Công Ty nằm ở góc Đông-Nam của một khu phố là “túi tiền” trời ban

Một văn phòng hay một cơ sở thương mãi nằm ngay góc Đông-Nam của một khu phố (shopping center) là đóng ngay cung Tài Lộc của khu phố đó.

shibuya Góc Đông Nam của một khu phố là “túi tiền” trời ban

Những văn phòng dịch vụ hay những cơ sở mua bán nào ở tại vị trí này, thường hưởng được nhiều may mắn và thuận lợi hơn những cơ sở thương mãi khác cùng trong khu phố đó.

Đặt được một cơ sở thương mãi ngay cung Tài Lộc của một khu phố, và nếu hướng của cơ sở này hợp với chủ nhân và không có gì phạm vào Phong Thủy, thì đúng là lộc của trời đã đến tay.
  Nguồn: Tổng hợp.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More